Mục lục

Khe hở giữa các răng, nhất là giữa hai răng cửa trên, là lý do nhiều người tìm đến chỉnh nha. Khe hở trông giống nhau nhưng nguyên nhân có thể rất khác nhau, nên cách xử lý cũng khác. Bài này giải thích các nguyên nhân thường gặp, vì sao cần khám, khay được dùng trong trường hợp nào, và vì sao khe hở dễ mở lại sau khi đóng.

Cần nhớ

  • Răng thưa có nhiều nguyên nhân: kích thước răng không cân xứng với cung hàm, thiếu răng, răng dư, phanh môi, thói quen hoặc bệnh nha chu. Cần khám và chụp phim để tìm nguyên nhân trước khi chọn cách xử lý.
  • Ở trẻ đang thay răng, khe giữa hai răng cửa trên thường gặp và trong nhiều trường hợp tự đóng khi răng nanh mọc. Vẫn nên cho trẻ khám để theo dõi.
  • Người lớn tự nhiên thấy răng thưa ra cần được khám nướu, vì bệnh nha chu có thể làm răng di lệch.
  • Khay có thể được dùng cho răng thưa mức nhẹ đến vừa. Tùy nguyên nhân, bác sĩ có thể đề nghị mắc cài, trám hoặc mặt dán sứ, hay phối hợp nhiều cách.
  • Khe hở giữa hai răng cửa dễ mở lại sau khi đóng. Duy trì là một phần của điều trị, và bác sĩ có thể đề nghị khí cụ duy trì cố định.

Răng thưa do đâu?

Một khe hở có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân sau:

  • Kích thước răng không cân xứng với cung hàm. Khi răng nhỏ so với xương hàm, có thể xuất hiện khoảng trống giữa các răng [AAO Răng thưa 2026]. Bất hài hòa về kích thước răng là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến khe thưa răng cửa [Mai Thanh 2024]. Răng cửa bên nhỏ, có dạng hình chêm cũng là một nguyên nhân [Huang 1995].
  • Thiếu răng hoặc mất răng. Thiếu răng bẩm sinh có thể gây khe hở [Kumar 2011]. Khi mất răng, các răng bên cạnh dần dịch vào khoảng trống và tạo ra khe [AAO Răng thưa 2026].
  • Răng dư. Răng dư nằm giữa hai răng cửa có thể ngăn hoặc làm lệch chỗ mọc của răng cửa [AAPD Bộ răng 2024][Kumar 2011]. Răng thừa mọc ngầm ở vùng vòm miệng phía trước có thể gây lệch lạc răng cửa hàm trên [Hoàng Kim Loan 2026].
  • Phanh môi. Phanh môi trên là dải mô nối môi với nướu ngay trước hai răng cửa giữa; nếu phanh môi to, nổi rõ, có thể gây khe hở giữa hai răng cửa [ESHT Cắt phanh môi]. Tuy vậy, phanh môi chỉ là nguyên nhân ở một tỷ lệ nhỏ các trường hợp [Huang 1995].
  • Thói quen. Một số thói quen ở trẻ như mút ngón tay, dùng núm vú giả kéo dài hay đẩy lưỡi có thể ảnh hưởng đến cách răng xếp [AAO Răng thưa 2026]. Mối liên hệ này mang tính liên quan, chưa chắc là nguyên nhân trực tiếp [AAPD Bộ răng 2024].
  • Bệnh nha chu. Ở người lớn, bệnh nướu hoặc tiêu xương có thể làm giảm nâng đỡ quanh răng [AAO Răng thưa 2026]. Ở người bị viêm nha chu, khe thưa là dạng di lệch răng thường gặp thứ hai, và những răng di lệch thường mất xương nhiều hơn [Costa 2004].

Khe hở ở trẻ đang thay răng

Ở trẻ đang thay răng, khe giữa hai răng cửa trên thường gặp, đôi khi được gọi là giai đoạn “vịt con xấu xí”. Trong phần lớn trường hợp, khe này tự đóng khi răng nanh mọc [Huang 1995]. Một số khe thưa ở trẻ là bình thường, nhưng vẫn cần được theo dõi [AAO Răng thưa 2026]. Bài Trẻ em và thiếu niên điều trị bằng khay nói thêm về chỉnh nha ở tuổi này.

Vì sao cần khám và chụp phim trước

Vì nguyên nhân khác nhau, bác sĩ cần tìm ra nguyên nhân trước khi chọn cách xử lý. Bác sĩ có thể dùng ảnh chụp, dữ liệu quét, phim X-quang hoặc lấy dấu răng để hiểu rõ nguyên nhân [AAO Răng thưa 2026]. Phim toàn cảnh và phim quanh chóp giúp phát hiện những gì mắt thường không thấy, như răng dư nằm ngầm hay thiếu mầm răng [Huang 1995][Kumar 2011]. Với khay, khám, chẩn đoán và lập kế hoạch đúng là điều thiết yếu [BOS Khay].

Nếu bạn là người lớn và thấy khe hở mới xuất hiện hoặc rộng dần, nên đi khám sớm. Trường hợp này cần được khám nướu, không chỉ xem xét việc đóng khe (xem Người lớn tuổi, người từng bị viêm nha chu).

Các cách xử lý thường gặp

Tùy nguyên nhân và mong muốn của bạn, bác sĩ có thể đề nghị một cách hoặc phối hợp nhiều cách.

Chỉnh nha bằng khay hoặc mắc cài

Mắc cài dần di chuyển răng và đóng khe hở; khay có thể là một lựa chọn cho răng thưa mức nhẹ đến vừa [AAO Răng thưa 2026]. Khay thường được dùng nhất cho lệch lạc nhẹ đến vừa và thưa nhẹ, không cần nhổ răng [BOS Khay]. Một tổng quan hệ thống cho rằng hiện chỉ có thể kết luận chắc chắn về chỉ định của khay với sai lệch nhẹ đến vừa, và cần thêm nghiên cứu chất lượng cao về chỉ định của khay [Hartogsohn 2025].

Ban biên tập chưa tìm thấy nghiên cứu chất lượng tốt riêng về khay trong việc đóng khe giữa hai răng cửa. Khay hay mắc cài là quyết định của bác sĩ sau khi khám. Xem thêm Làm sao biết điều trị bằng khay có phù hợp?.

Trám, mặt dán sứ hoặc phục hình

Khi khe hở do răng nhỏ hoặc hình dạng răng không đều, có thể đắp composite hoặc làm mặt dán sứ [AAO Răng thưa 2026]. Trong phần bàn luận của một nghiên cứu Việt Nam, nhóm tác giả nêu cách điều trị bảo tồn là phục hồi kích thước thân răng bằng trám composite trực tiếp hoặc mặt dán sứ [Mai Thanh 2024]. Nếu khe mở lại sau chỉnh nha mà không dùng được dây duy trì cố định, có thể cần mão, mặt dán sứ hoặc đắp composite để đóng khoảng [Huang 1995]. Phối hợp và thứ tự các cách do bác sĩ quyết định; bài Tẩy trắng và trám răng trong và sau điều trị bằng khay nói thêm về thời điểm.

Xử lý phanh môi

Không phải ai có khe hở cũng cần cắt phanh môi. Ở trẻ nhỏ, thường không có chỉ định cắt phanh môi; thời điểm phù hợp là khi răng vĩnh viễn đã phát triển, khi đang chỉnh nha, hoặc sau khi răng nanh vĩnh viễn hàm trên đã mọc [NHS Phanh môi trẻ em]. Một tổng quan (năm 1995) cho rằng phẫu thuật phần mềm chỉ nên tiến hành sau khi khe hở đã được đóng lại [Huang 1995]. Bác sĩ sẽ đánh giá phanh môi có liên quan tới khe hở của bạn hay không.

Răng dư, thiếu răng

Một nghiên cứu ở 35 người tại Việt Nam mô tả kết quả phẫu thuật lấy bỏ răng thừa ngầm vùng vòm miệng phía trước [Hoàng Kim Loan 2026]. Có cần phẫu thuật hay không do bác sĩ quyết định. Khi thiếu răng, bác sĩ sẽ cân nhắc đóng khoảng hay giữ khoảng để phục hình sau; việc này cần lập kế hoạch từ đầu.

Khi có bệnh nha chu

Một tổng quan hệ thống về răng di lệch do viêm nha chu nặng chỉ gộp các nghiên cứu ở người được điều trị phối hợp nha chu và chỉnh nha; nghiên cứu để bệnh nha chu không điều trị bị loại [Papageorgiou 2022]. Nếu khe hở liên quan đến bệnh nha chu, điều trị và kiểm soát bệnh nha chu là một phần của kế hoạch.

Sau khi đóng khe: vì sao dễ mở lại

Khe giữa hai răng cửa trên là chỗ dễ mở lại sau điều trị:

  • Phần lớn khe hở giữa hai răng cửa trên có thể tái phát, kể cả khi điều trị tốt [Huang 1995][Kumar 2011].
  • Trong một nghiên cứu ở 30 người, khe giữa hai răng cửa mở lại ở 60% số người sau giai đoạn duy trì; mức mở lại trung bình của cả nhóm khoảng 0,5 mm, ở những người có mở lại khoảng 0,8 mm. Khe giữa răng cửa giữa và răng cửa bên thì ổn định hơn [Morais 2014].
  • Một nghiên cứu khác ở 24 người điều trị mắc cài có nhổ răng, hàm trên đeo khí cụ duy trì tháo lắp, không thấy khe giữa các răng cửa trên tái phát có ý nghĩa thống kê; khoảng 8% khe giữa mở lại từ 0,5 mm trở lên [Carruitero 2020]. Cả hai nghiên cứu đều nhỏ, ở người điều trị bằng mắc cài, không phải khay.

Vì vậy, duy trì là một phần của điều trị:

  • Khí cụ duy trì giúp giữ kết quả và ngăn khe hở mở lại [AAO Răng thưa 2026]. Sau mọi điều trị bằng khay đều cần khí cụ duy trì [BOS Khay].
  • Khí cụ duy trì có thể là loại tháo lắp hoặc dây cố định dán ở mặt sau các răng trước [NDCS Duy trì]. Với khe giữa răng cửa, một số tác giả khuyến nghị dây duy trì cố định dán mặt trong [Huang 1995][Kumar 2011].
  • Khí cụ duy trì được đeo chừng nào bạn còn muốn giữ răng đều [NDCS Duy trì]. Hãy hỏi bác sĩ cách vệ sinh nếu bạn có dây duy trì cố định.

Bài Sau điều trị: tìm hiểu về duy trì giải thích các loại khí cụ duy trì và cách chăm sóc.

Câu hỏi nên trao đổi với bác sĩ

  1. Khe hở của tôi do nguyên nhân gì? Có cần chụp phim không?
  2. Nướu và xương quanh răng của tôi có ổn không?
  3. Với khe hở này, khay có làm được không, hay cần mắc cài, trám hoặc mặt dán sứ?
  4. Phanh môi của tôi có liên quan không? Nếu cần xử lý thì làm trước hay sau khi đóng khe?
  5. Con tôi đang thay răng, khe hở này có cần can thiệp không hay chỉ cần theo dõi?
  6. Sau khi đóng khe, tôi cần khí cụ duy trì loại nào, đeo bao lâu?

Nguồn tham khảo

  1. [Huang 1995] The midline diastema: a review of its etiology and treatmentHuang WJ, Creath CJ. Pediatric Dentistry 17(3):171–179, Viện Hàn lâm Nha khoa Trẻ em Hoa Kỳ (AAPD), 1995. Tổng quan tường thuật, tài liệu cũ; viết cho nha khoa trẻ em và chỉnh nha nói chung, không nói về khay; đã đọc toàn văn. Truy cập ngày 26/10/2026.
  2. [Kumar 2011] Orthodontic Management of Midline Diastema in Mixed DentitionKumar A, Shetty RM, Dixit U, Mallikarjun K, Kohli A. International Journal of Clinical Pediatric Dentistry 4(1):59–63, 2011. Báo cáo loạt 3 ca ở trẻ đang thay răng, bằng chứng thấp; chỉ dùng cho ý mô tả; đã đọc toàn văn. DOI: 10.5005/jp-journals-10005-1083. Truy cập ngày 26/10/2026.
  3. [Morais 2014] Postretention stability after orthodontic closure of maxillary interincisor diastemasMorais JF, Freitas MR, Freitas KMS, Janson G, Castello Branco N. Journal of Applied Oral Science 22(5):409–415, 2014. Nghiên cứu hồi cứu 30 người điều trị mắc cài không nhổ răng, hàm trên duy trì bằng khí cụ tháo lắp Hawley (loại người có dây cố định hàm trên); một trung tâm; không phải khay; đã đọc toàn văn. DOI: 10.1590/1678-775720130472. Truy cập ngày 26/10/2026.
  4. [Carruitero 2020] Stability of maxillary interincisor diastema closure after extraction orthodontic treatmentCarruitero MJ, Aliaga-Del Castillo A, Garib D, Janson G. The Angle Orthodontist 90(5):627–633, 2020. Nghiên cứu hồi cứu 24 người điều trị mắc cài có nhổ răng cối nhỏ; hàm trên đeo khí cụ tháo lắp Hawley, dây cố định răng nanh–răng nanh chỉ ở hàm dưới; không phải khay; đọc bản PDF trên trang tạp chí (đường DOI lỗi khi kiểm chứng). DOI: 10.2319/080619-516. Truy cập ngày 26/10/2026.
  5. [AAO Răng thưa 2026] Teeth Spacing: Causes, Concerns, and Treatment OptionsHiệp hội Chỉnh nha Hoa Kỳ (American Association of Orthodontists, AAO), 2026. Đăng 26/06/2026, cập nhật 16/09/2026; trang thông tin cho công chúng, chỉnh nha nói chung. Truy cập ngày 26/10/2026.
  6. [BOS Khay] Clear alignersHội Chỉnh nha Anh (British Orthodontic Society, BOS). Trang thông tin người bệnh, không ghi ngày trên trang (siêu dữ liệu sửa đổi 23/09/2022); viết riêng cho khay. Truy cập ngày 26/10/2026.
  7. [Hartogsohn 2025] Clear Aligner Treatment: Indications, Advantages, and Adverse Effects—A Systematic ReviewHartogsohn CR, Sonnesen L. Dentistry Journal 13(1):40, 2025. Tổng quan hệ thống 18 nghiên cứu, không bàn riêng về răng thưa; tác giả nhận định bằng chứng về chỉ định còn hạn chế; đã đọc toàn văn. DOI: 10.3390/dj13010040. Truy cập ngày 26/10/2026.
  8. [NHS Phanh môi trẻ em] Upper Lip Tie DivisionsKhoa Phẫu thuật Hàm mặt và Khoa Phẫu thuật Nhi và Sơ sinh, Bệnh viện Đại học Norfolk và Norwich, cùng mạng lưới CleftNet East (Anh); đăng trên trang James Paget University Hospitals NHS. Tuyên bố quan điểm về cắt phanh môi trên ở trẻ, không ghi ngày; không nói trực tiếp về khe thưa. Truy cập ngày 26/10/2026.
  9. [ESHT Cắt phanh môi] Frenectomy under local anaestheticEast Sussex Healthcare NHS Trust (Anh), tờ thông tin người bệnh, 2025. Tờ số 0789/04, 06/2025, hạn rà soát 06/2027. Truy cập ngày 26/10/2026.
  10. [Papageorgiou 2022] Effect of periodontal–orthodontic treatment of teeth with pathological tooth flaring, drifting, and elongation in patients with severe periodontitis: A systematic review with meta-analysisPapageorgiou SN, Antonoglou GN, Michelogiannakis D, Kakali L, Eliades T, Madianos P. Journal of Clinical Periodontology 49(Suppl 24):102–120, 2022. Tổng quan hệ thống, đăng trực tuyến 2021; người viêm nha chu nặng; chỉ gộp nghiên cứu đã điều trị nha chu; đã đọc toàn văn. DOI: 10.1111/jcpe.13529. Truy cập ngày 26/10/2026.
  11. [Costa 2004] Periodontal conditions of teeth presenting pathologic migrationCosta MR, Silvério KG, Rossa Júnior C, Cirelli JA. Brazilian Oral Research; tác giả thuộc Khoa Nha chu, Trường Nha Araraquara, Đại học Bang São Paulo (Brazil), 2004. Số tháng 12/2004, đăng trực tuyến 2005; nghiên cứu quan sát 32 người viêm nha chu mạn, một trung tâm; đã đọc toàn văn. Truy cập ngày 26/10/2026.
  12. [NDCS Duy trì] Retainers After BracesTrung tâm Nha khoa Quốc gia Singapore (National Dental Centre Singapore, SingHealth). Trang thông tin người bệnh, không ghi ngày; viết cho duy trì sau mắc cài. Truy cập ngày 26/10/2026.
  13. [AAPD Bộ răng 2024] Management of the Developing Dentition and Occlusion in Pediatric DentistryViện Hàn lâm Nha khoa Trẻ em Hoa Kỳ (American Academy of Pediatric Dentistry, AAPD), Best Practices, 2024. Hướng dẫn thực hành, sửa đổi 2024; viết cho bộ răng đang phát triển ở trẻ, không nói về phanh môi. Truy cập ngày 26/10/2026.
  14. [Mai Thanh 2024] Đặc điểm kích thước răng cửa giữa hàm trên ở sinh viên có khe thưa răng cửa tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí MinhPhạm Thị Mai Thanh, Lê Thị Cẩm Tú. Tạp chí Y học Cộng đồng 65(CĐ11):212–217, 2024. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 77 sinh viên năm thứ nhất ĐH Y Dược TP.HCM (năm học 2023–2024) có khe thưa trong 2.424 sinh viên được sàng lọc; tác giả thuộc Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên và BV Trung ương Thái Nguyên; hai ý được dùng nằm ở phần bàn luận; không về chỉnh nha; đã đọc toàn văn qua cổng thông tin khoa học công nghệ quốc gia. DOI: 10.52163/yhc.v65iCD11.1774. Truy cập ngày 26/10/2026.
  15. [Hoàng Kim Loan 2026] Mô tả biến chứng thường gặp và kết quả phẫu thuật loại bỏ răng thừa ngầm vùng khẩu cái trướcHoàng Kim Loan, Trần Đông Bắc, Phạm Minh Hoàng. Tạp chí Nghiên cứu Y học (Trường Đại học Y Hà Nội) 200(3):95–103, 2026. Đăng 31/03/2026; mô tả 35 người có răng thừa ngầm; bài không dùng từ “khe thưa”; đọc trang bài và tóm tắt. DOI: 10.52852/tcncyh.v200i3.4847. Truy cập ngày 26/10/2026.

Bài viết cung cấp thông tin chung để bạn hiểu và chuẩn bị câu hỏi. Thông tin này không thay thế việc thăm khám và kế hoạch điều trị cá nhân.